Thứ Hai, 9 tháng 9, 2013

Phạm Công Trứ: Gã nhà quê tinh cá biệt quái.

Trong không khí "nhà quê muôn năm" ấy, Phạm Công Trứ được hoan nghênh, "ăn khách", tưởng cũng không có gì là lạ? Nhưng Phạm Công Trứ chỉ là người gặp thời, may mắn, chứ không phải là người theo thời, hùa

Phạm Công Trứ: Gã nhà quê tinh quái

Hai con của thi sĩ đều đang học cấp ba, con lớn học lớp 12, con nhỏ mới vào lớp 10: “hiện nay tôi vẫn phải lo cho chúng ăn học, nên cũng không nhàn hạ gì. Thơ anh có sự ngất nghểu, thong thả tự tại. Đừng tưởng nói tục, nhất lại tục trong thơ là dễ. Nó có chất giống ông Nguyễn Bính, hơi… lỡ buớc”, nhà thơ tự trào. Nhưng Trứ vừa hấp thu, vừa biết phát triển.

Ra quân là cố chí vào đại học. Tác giả “Lời thề cỏ may” nguyên là một nghiêm phụ, duyên nợ với nghiệp viết đã khiến vị phó giáo sư tiến sỹ Luật rời bỏ giảng đường. Chỗ ấy, anh có giọng thơ rất trìu mến, âu yếm Cổ áo rộng ra, váy ngắn dần/ nõn nường ngà ngọc bọc thanh tân. Đồng bạc lên ngôi, thị thành bành trướng, môi trường suy thoái, làng quê vốn đã bị đảo lộn vì chiến tranh, vì phong trào này, chiến dịch nọ, nay lại cuốn vào một cơn lốc mới, chưa biết điểm dừng ở đâu.

Năm "Lời thề cỏ may" xuất hiện trên văn đàn (1986) cũng là năm bắt đầu một thời gian đặc biệt của đời sống Việt Nam, được định danh là thời Đổi mới. Điều đáng quý là Phạm Công Trứ khá thành thật. Đọc bài "Khỏa", như được xem. Phạm Công Trứ nhận mình là “lão xấu giai”.

Tục là một nhân tố làm nên cái quê thứ thiệt của thơ Trứ. Truyền hình thoạt tiên khỏa tay/ nõn nường trắng tay/ Rồi thì khỏa chân/ Ngọc ngà chân thẳng/ Rồi thì khỏa ngực/ Mởn mơ ngực hồng/ Rồi thì khỏa hông/Hông đầy ngồn ngộn/ hiện khỏa rốn/ Rốn tròn bây by. Đổi thay gì? đổi thay về chuyện ăn mặc: anh trai quê của Nguyễn Bính khó chịu với "khăn nhung quần lĩnh rộn ràng/ áo cài cúc bấm.

Có một điều lạ là bài thơ ấy lại rất được độc giả ngưỡng mộ, được in đi in lại nhiều lần, được dùng làm tên cho tập thơ đầu tay của Trứ và cả 2 tập tiếp theo (Lời thề cỏ may I, 1990; Lời thề cỏ may II, 1993; Lời thề cỏ may III, 1996).

"Em" của ông Bính "đi tỉnh", "em" của Trứ "ra thị thành". Cũng ít anh com-lê, cà-vạt dám ngồi chồm hỗm trên hè phố ăn bún đậu mắm tôm. Bán mông! Hay thì chẳng lấy gì làm hay (Trứ có nhiều bài tàng như vậy, nhất là "Cỏ may thi tập"), nó như nhại lại câu ca dao hí hước của chàng nho sĩ vô danh, chỉ thêm chút "thế kỉ hai mươi "Em ơi tội vạ gì đâu/ Suốt ngày em chổng phao câu lên trời.

So sánh với bạn bè thành đạt, Trứ không mặc cảm Thương mình lạc nẻo văn học/ Thương người mộng chốn quan trường vân vi/ Văn trường khoái chí mấy khi/Quan trường rút cuộc lấy gì làm tin? Về chơi “Hội làng" anh bình tĩnh trước những phôi pha của màu sắc dân gian Trai làng đóng khố/ Khố sợi ni-lông/ Gái làng đeo yếm/ Yếm thêu a-còng/ Chú Tễu ngoái trông/ Tờ tranh quảng cáo/Mẹ Đốp lắc mông/Trả lời nhà báo.

Gà quê, gạo quê, gái quê. Vẫn một tâm trạng ích kỉ, hoang mang của anh con trai xưng "tôi" trước sự đổi thay của "em". Đọc tuyển thơ đầy tự tin này (320 trang, 183 bài thơ, NXB Văn học 2000) mới biết Phạm Công Trứ làm thơ ấu hồi còn trong quân ngũ, về lí (và về tuổi) có thể xếp vào "lứa chống Mỹ", trước 1975.

Khá điển hình cho sức vươn lên của con em nông dân ngày nay trong sự thăng trầm của thế cục. Đi chơi/ Gặp đàn vịt trời/ Giương cung anh bắn/ Gặp cô yếm thắm/ Đội gạo lên chùa/ Thò tay bóp vú.

Đấy là tướng người hồi nhưng đa tình, không kém phần tinh quái. Từ dây xu-chiêng của cô thôn nữ đến chiếc quần bò kéo khóa cái rẹt của anh con trai. Từ thời Nguyễn Bính đến nay mới lại có một cuộc Thay đổi sâu sắc như vậy.

Cái trên trễ xuống, cái dưới co lên, vần điệu quấn quít , nâng niu. Không phải chỉ tỉnh thành xâm nhập nông thôn, còn có quá trình ngược lại nữa. Tốt nghiệp bám trụ Thăng Long. Đời cũng nửa hài, nửa bi. Trong thâm tâm, tôi không đánh giá cao bài thơ, cũng không tin cậy lắm vào sự phát triển của cây bút này. Nhưng những bài thơ tân binh ấy, giá có được công bố ngay thời điểm sáng tác, cũng chẳng được ai chú ý? Tác giả cũng biết vậy nên xếp nó ở cuối thi tập, dưới một cái tên chung là "Rừng", ăn theo ba phần trước là "Quê", "Em" và "Tuyết".

“Bi”, bởi lẽ, ông là người được học hành, đào tạo bài bản: “Mình bằng cấp nước ngoài hẳn hoi, bảo vệ bên Nga, song lại thích làm văn, làm báo, đường sự nghiệp không thành đạt. Đổi mới thì có nhiều cái hay, cái tốt - và phải khẳng định cái hay cái tốt là chính- nhưng cũng có nhiều cái dở, cái chướng tai ngứa mắt, thậm chí đau lòng.

Đổi thay từ điếu thuốc đầu lọc trên môi đến hộp bia trong bữa ăn. Cỏ của anh là cỏ may, không sắc cũng không hương, mọc nơi vệ đường, bờ đê, chẳng để làm gì, chỉ để bám váy ai chơi! Câu thơ cợt nhả, đúng kiểu đơn côi của anh trai quê trong ca dao Sáng trăng vằng vặc/ Vác c. Rồi đi Tây lấy bằng "phun thuốc sâu". Nhưng bài thơ đặt trong cả tập, đặt trong cái " trường" chung của thơ Trứ không bị " vênh".

Tranh: Nguyễn Xuân Hoàng. Món gì cũng phải có cái đuôi "quê" thì mới đảm bảo là thứ thiệt! Nhà quê lên ngôi, trở thành mốt lúc nào không hay. Phạm Công Trứ nhận: Thơ tôi nửa bi, nửa hài. Giá không có Nguyễn Bính, có lẽ Phạm Công Trứ đã có một cái chiếu trải giữa làng văn rồi".

Nông thôn hi sinh cả "thương hiệu" của mình cho tỉnh thành tham

Phạm Công Trứ: Gã nhà quê tinh quái

Anh là người thân quê chính hiệu, một anh trai quê có tâm hồn nhà thơ, giữa thời buổi toàn cầu hóa.

Tập "Phồn thi" (NXB Hội Nhà văn 2004) tục từ cái tên, thỉnh thoảng ngấp nghé vè truyện cười Dù đài các hay quê mùa/ Cũng thích phần xác, cũng ưa phần hồn/ Dẫu chuộng thực hay chuộng khôn/ Chung quy vẫn một vần "ồn" mà ra (Phồn thi).

Cũng cái mông ấy nhưng tại sao khi Nguyễn Thụy Kha viết Em quanh năm mông chổng lên trời/ Còn ta nhà thơ rong chơi thì đọc lại thấy gợn? có lẽ vì Kha không "bình dân" như Trứ.

Trong khoảng hơn 10 năm mà in được 4-5 tập thơ, trên 200 bài, không phải bài nào cũng hay nhưng không có bài nào quá dở, làm thành một điệu riêng, giọng riêng, hẳn phải là người tài? Nhưng điều quan trọng hơn là anh còn gặp thời nữa.

Mải “gỡ lời thề cỏ may” nên ông lấy vợ tương đối muộn, bà xã kém chục tuổi. Thi sĩ, nhà báo Phạm Công Trứ mới nghỉ hưu được một tháng ở tòa soạn báo Pháp Luật Việt Nam. Có buồn cũng là buồn thực, không làm dáng. Nhưng biết sao được, số nó vậy rồi”. Có một ám ảnh phồn thực trong hồn thơ này, phải chăng là từ thời thơ ấu Ta về lặn lại sông sen/ Trồi lên mặt nước hé xem chúm hồng? Cứ động đến.

Hiểu con người, Trứ hiểu cả thơ mình. Không ai văng tục trong phòng khách nhà người ta, sớm mồng một tết. Nghe đâu anh hơi có ý diễu thói sính chữ nghĩa bưng bít của nhân gian Tên thường gọi vú/Đích thị nữ giới/ Để cho văn vẻ/ Chữ là nhũ hoa/ Đứa trẻ lên ba/ Gọi là cái" tí"/ Thêm tý duy mĩ/ Bồng đảo đôi gò/ Nàng chửa muốn cho/ Cau còn non lắm.

Bài thơ lục bát mang hơi hướng Nguyễn Bính không cần giấu giếm, được ưng ý một cách dễ dàng, được đăng báo ít tuần sau. Hỏi: “Ngoài đời ông có tếu táo như những gì ông viết trong “Phồn thi” không?”, ông đáp: “Mình gốc dân cày, dân cày hải phận (Hải Hậu – Nam Định) nên chất dân gian, tếu táo cứ tự nhiên vậy thôi”. Cái tục phải chọn đúng đối tượng, đúng cảnh, nếu không muốn gây nên phản cảm, thậm chí trở thành quái vật trước con mắt mọi người.

Tục trong thơ Phạm Công Trứ vẫn nằm trong khuôn khổ truyền thống với bà cố tổ là nữ sĩ Hồ Xuân Hương. (1996). Phạm Công Trứ đi lính thì ôm được chữ Thọ. Nguyễn Hoàng Sơn. Tôi vẫn nhớ lần trước nhất Phạm Công Trứ đến tòa soạn Tiền Phong, mang theo bài thơ.

Chính cái vẻ quê quê, cái giọng thơ khề khà, lè phè, quẩn, gàn gàn của Trứ khiến cái tục trở nên đắc địa, nếu chưa hay thì cũng không chướng.

Cả khi suy ngẫm về rút cục của cõi người, Phạm Công Trứ cũng không bi lụy Là hoa thì nở/Hoa nào có biết/Đã nở là tàn/ /Là sông thì chảy/Sông đâu có biết/Đã chảy là tan/Là người thì sống/Biết sống là già/Biết già là chết/Biết chết là hết!!! Sự bình tĩnh, thậm chí là mặc nhiên trước thành bại sinh tử, không bi kịch hóa thế cuộc, theo tôi cũng là cái khỏe mạnh của người cần lao, người dân cày mà Trứ thừa hưởng.

Xưng nhà quê hiện giờ thỉnh thoảng chỉ là một cách làm bộ nhún mình. Khiêm tốn ư? Có vẻ thế thôi, thực ra là kiêu ngầm Rừng chữ nghĩa những ai kia tùng bá/ Còn ai kia là kiếp hổ, kiếp nai/ Hắn tự biết kiếp mình là cỏ/ Cỏ tầm thường vẫn bám váy ai! (Hắn) Từ ngày ông Uýt-man của Hoa Kỳ vinh danh cho cỏ trong thơ bằng cái câu thoạt nghe thật khổ thân Hãy tìm tôi dưới gót giày của anh! thì ti tỉ thi sĩ thường tự ví mình với cỏ.

Đời cũng nửa hài, nửa bi  Phạm Công Trứ. Ở tuổi sáu mươi, ông chuyển sang dạng thơ thiền, ngẫm người yêu thế thái. Nhà thơ cũng khéo "cắt cảnh" như đạo diễn Rồi nữa khỏa gì?/Gặp em hỏi nhỏ/ Em cười quay đi! Nhân một cuốn sách dịch thời thượng, Phạm Công Trứ có cả một bài thơ, khề khà bàn về mấy thứ cánh mày râu suốt đời nghi ngóp, không ngại "gọi sự vật bằng tên của nó" "Phong nhũ phì đồn"/ Thật thà chuyển ngôn/ Vú to mông nở/ Người dịch tự sửa/ "bảo vật của đời"/ Nhân cái chuyện ấy/ Mấy dòng bàn chơi.

Con đường của Phạm Công Trứ, Trần đại đăng khoa. Phạm Công Trứ vẫn đang đấu sáng tác.

Phạm Công Trứ   Những dòng tự họa sau đây khá chuẩn Chốn đô hội hắn đi đầu cúi xuống/ Còn tóc tai thì cứ xù lên/ Giữa giảng đường com-lê, cà vạt/ Cao giọng rồi, trông hắn vẫn nhom nhem.

Bài thơ làm nên cái tên Phạm Công Trứ là "Lời thề cỏ may" (1986). "; Cái người xưng "tôi" của Phạm Công Trứ cũng tự ti trước "Em tôi áo chẽn, em tôi quần bò".

Như cái bài "Về làng" này thụt lùi cắm mạ xuống đồng/ Từng hàng nón trắng chĩa mông lên trời/ Đã qua thế kỉ hai mươi/ Về làng còn thấy bao người. Cỏ may trở thành một thứ thương hiệu do Trứ sở hữu, nên mới có "Cỏ may thi tập"! giảng giải chuyện này thế nào? Phải chăng có hiện tượng "lại giống", "lại gạo" trong thị hiếu của công chúng thơ? Nhưng không phải Nguyễn Bính được hâm mộ thì môn đồ của ông cũng dễ dàng được tung hô! Hơn nửa thế kỉ qua, người bắt chước lối thơ Nguyễn Bính nhiều không đếm xuể, nhưng nên danh được có lẽ chỉ một Phạm Công Trứ? Điều đó chứng tỏ anh có tài.

Một gã sinh viên tông tích nông thôn, quần áo nhàu nhĩ, răng lợi lích kích, râu ria xúm xít, mắt cúp có đuôi, hay nhìn từ dưới lên kiểu Trùm Sò. Quán karaoke treo biển "Hương quê", "Hương bưởi".

"Chợ quê" họp trên tầng thượng khách sạn, muốn "đi chợ" ăn bún ốc phải vào thang máy. Về nước, ngoảnh đi ngoảnh lại đã có hàm Phó Giáo sư, có nhà xây to tướng như hội sở ủy ban quận. Từ năm 1996, Vũ Nho đã khẳng định Phạm Công Trứ có tài. Câu chuyện buồn của hai thời đại cùng diễn ra trên một con đê, bờ đê.

Cái tục, cái bông phèng, tếu táo (chữ của Vũ Quần Phương) là nét khu biệt thơ Phạm Công Trứ với bậc đàn anh, bậc thi bá Nguyễn Bính. Tập thơ tự tuyển của Phạm Công Trứ có cái tên nửa Nôm nửa Hán "Cỏ may thi tập", phảng phất hơi hám chữ nghĩa thời thị trường, kiểu "Bạn tôi quán", "Cầy tơ quán",. Xét nét hơn nữa thì có thể chỉ ra sự lặp lại cả về hình thức: hai bài thơ đều được " gói lại" bằng một cặp lục bát tách rời với phần trên Hôm qua em đi tỉnh về/ Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều (N B); Trăng vàng đêm ấy bờ đê/ Có người ngồi gỡ lời thề cỏ may (PCT)! Đó là lí do khiến Trần đại đăng khoa hạ bút "phán" những câu xanh rờn "đọc Phạm Công Trứ vẫn nhớ đến Nguyễn Bính.

Lê Lựu, Trần đại đăng khoa đăng đàn ở đâu cũng trương cái biển nhà quê to đùng, ai dám bảo là hai ông ấy lơ ngơ? Phạm Công Trứ cũng vậy.

"Lời thề cỏ may" có "họ hàng" quá gần gũi với "Chân quê" của Nguyễn Bính viết trước đó tròn nửa thế kỉ (1936), thậm chí có thể nói Phạm Công Trứ đã "nhại" lại bài thơ nổi danh của người đi trước? Vẫn một tứ thơ hoài cổ, muốn níu giữ những gì đã quen thuộc từ "ngày xửa ngày xưa".

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét