Những việc liên quan trong thế cuộc, nếu có nhịp tôi đều xin ý kiến Đại tướng
Sau này, khi được gặp gỡ, tiếp xúc với Đại tướng nhiều lần hơn nữa thì trong lòng tôi, Đại tướng luôn là một người anh có phong cách bình dị, cao quý, hi sinh. “Đại tướng nằm viện gần cả chục năm, nhưng khi nghe tin bác mất, cả quân, cả dân, cả thế giới vẫn cảm thấy đột ngột.
Đoàn Quân đội có 26 người, bao gồm các anh hùng, nhà văn, nhà báo. Ấn tượng nhất của tôi về Đại tướng rất đúng với một câu nói của đồng chí Đồng Sĩ Nguyên: Đại tướng đánh giặc như thế, anh hùng như thế nhưng không bao giờ thấy Đại tướng nói to tiếng với ai. Nhà buôn là dũng sĩ phát triển kinh tế. Gần gũi, bình dị và tình cảm lắm. Sau khi phỏng vấn xong tôi đã gửi bản thảo cho Đại tướng đọc. Chuyến đi ấy tôi được chứng kiến một câu chuyện khôn xiết cảm động.
Chuyện trò với bác xong tôi kính nể hết sức. Chứng kiến cảnh ấy, Đại tướng chẳng hề giận dữ. Anh em không cần phải chen lấn, đứng sắp hàng, từng người một, muốn chụp bao nhiêu cũng được.
Đại tướng chỉ cười. Quả thực lúc đó tôi không còn giữ được tĩnh tâm, thậm chí đã phản ứng có phần vô văn hóa khi chất vấn Đại tướng là vì sao lại gạch câu hỏi ấy đi. Trong lòng Đại tướng cũng có nhiều tâm can, nhưng hình như bác luôn giữ kín, không muốn vì việc của mình ảnh hưởng đến việc chung. Khi cơ duyên khôn cùng may mắn ấy đến, tôi mới chỉ là anh hạ sĩ quèn.
Lẽ thường, rất khó có nhịp được ngồi cùng Đại tướng, nhưng bản thân tôi cũng không thể ngờ được rằng, Đại tướng chẳng những chuyện trò mà còn vỗ vai, hỏi han rất nhiều điều. Chừng như trong con người Đại tướng không có khoảng cách, quơ đều là anh em cật ruột. Ước muốn trước tiên của họ là được họp mặt Đại tướng. Bác nhẹ nhõm bảo thôi. Bức thư ấy tôi đặt vào chỗ trân trọng nhất.
Bác mời tôi đến nhà, khoác tay đi bộ một vòng trong vườn, cử chỉ thân tình, lời nói vẫn rất nhỏ nhẹ.
Lần thứ 2 năm 1973 ở rừng Trường Sơn, khi tôi làm phóng viên Tạp chí Văn nghệ Quân đội, tham dự cùng một nhóm phóng viên chụp ảnh Đại tướng. Không chỉ riêng tôi, với nhiều người mà tôi biết, họ gọi Đại tướng là anh Văn, một người anh tinh thần cao cả. Nghĩ suy rất lâu, Đại tướng bảo: Được quá chứ.
Bài phỏng vấn bị Đại tướng gạch đi một câu hỏi tương đối nhạy cảm. Đại tướng giản dị, tình cảm, tận tình chỉ bảo cho chúng tôi, không bao giờ phân biệt thân phận người đó thế nào.
Điều đặc biệt nhất tôi luôn kính phục đó là Đại tướng luôn đặt ích lợi chung của tập thể, của giang sơn lên đầu. Sau những lần được gặp gỡ, được chuyện trò cùng Đại tướng, bản thân tôi học được rất nhiều điều.
Chính căn hầm này là nơi Đại tướng đồng ý cho ông bà lấy nhau và tổ chức đám cưới tại đây. - Có nhiều cái mình phải vì cái chung Lựu à. Lúc đoàn đến thăm hầm Đờ Cát, chị Nguyễn Thị Ngọc Toản, vợ Trung tướng Cao Văn Khánh òa lên khóc. Tôi đi sang Mỹ, rất nhiều nhà văn bên đó san sẻ nguyện vọng được một lần gặp mặt Đại tướng. Nhà văn Lê Lựu Lần trước nhất tôi trông thấy Đại tướng, được nghe Đại tướng chuyện trò từ năm 1954, nhưng phải đến năm 1965, khi Đại tướng về thăm Quân khu 3 ở Chí Linh (Hải Dương) tôi mới có may mắn được nói chuyện riêng với bác.
Chưa có một vị tướng nào trên thế giới mà quân thù cũng phải cung kính, nghiêng mình trước hào kiệt, đức độ, đạo lý như Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ngày thành lập, Đại tướng gửi thư chúc hạ. Còn nhớ, có một lần, tôi, Trần đại đăng khoa và nhóm phóng viên Tạp chí Văn nghệ quân đội đến gặp Đại tướng để viết bài “Hỏi chuyện anh Văn” nhân kỷ niệm 30 năm ngày giải phóng Điện Biên Phủ, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Năm 1984, có 3 đoàn trở lại Điện Biên kỷ niệm 30 năm thắng lợi lịch sử Điện Biên Phủ. Kể cả nhiều lần sau này, thế cục Đại tướng có những lúc thăng trầm, nhưng chưa một lần nghe bác ca cẩm, than thở.
Lựu cứ tích cực, mạnh bạo mà làm. Nếu vì cái riêng của mình, nói ra ảnh hưởng đến cái chung thì tốt nhất là không nên nói.
Bà Hà (vợ Đại tướng), anh Hiếu, anh Huân (thư ký Đại tướng) cũng rất tạo điều kiện cho những người như tôi được gặp gỡ Đại tướng. Bài phỏng vấn "Hỏi chuyện anh Văn" sau đó in trên tập san Văn nghệ quân đội đầu tháng 5 năm 1994.
Tất nhiên là không có câu hỏi mẫn cảm ấy. Năm 1990, có 15 nhà văn Mỹ sang dự một cuộc hội thảo ở Việt Nam. Ai cũng náo nức, tạo thành đám đông chen lấn, có phần bừa bãi.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét